|   Liên hệ
Thống kê truy cập
  • Đang online: 46
  • Hôm nay: 6301
  • Trong tuần: 55507
  • Tất cả: 10072034
Lượt xem: 2141
Trẩy hội Phủ Dầy
Dù là một nhân vật lịch sử có thật, có khai sinh cụ thể, Thánh Mẫu Liễu Hạnh vẫn được coi là một nhân vật với nhiều huyền tích, một nhân vật của huyền thoại. Không biết bà được phong Mẫu từ bao giờ, chỉ biết rằng, từ mấy trăm năm qua, Mẫu đã đi vào tâm thức của người Việt như một bà mẹ khoan dung, độ lượng: một bà mẹ đầy lòng vị tha và nhân từ. Cùng với Đức Thánh Trần Triều- Trần Hưng Đạo, Thánh Mẫu Liễu Hạnh được nhân dân gọi một cách thân thương là Cha và Mẹ: Tháng Tám giỗ Cha/ Tháng Ba giỗ Mẹ.

Hàng năm, cứ đến tháng Ba (âm lịch), nhân dân xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định lại nô nức mở hội để tưởng nhớ tới ân đức của Mẫu.

Lễ hội Phủ Dầy kéo dài mùng 3-3 đến 8-3 âm lịch với nhiều nghi thức trang trọng đan xen các hoạt động văn hoá dân gian sôi nổi, đặc sắc. Tiêu biểu trong lễ hội Phủ Dầy là nghi thức rước kiệu (hay rước thỉnh kinh) và “Hoa trượng  hội” hay còn gọi là Hội kéo chữ-  tiết mục đặc sắc mang đậm tính chất sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa. Về nguồn gốc hội kéo chữ, có 2 dị bản, kể về 2 người con gái, một tên Phùng Ngọc Đài, một là Trần Thị Đài, có nguồn gốc khác nhau nhưng nội dung cơ bản giống nhau đó là nhờ cầu khấn Thánh Mẫu Liễu Hạnh ở Phủ Dầy mà lấy được chúa Trịnh (nàng Ngọc Đài lấy Trịnh Tráng, nàng Thị Đài lấy Trịnh Tùng). Một năm, dân phu cả nước phải về kinh đào đất đắp thành, bà Đài mới xin với chúa Trịnh miễn cho nhân dân huyện Vụ Bản, lại thưởng tiền ăn đường cho họ và dặn về Phủ Dầy tạ ơn Thánh Mẫu. Sau thành lệ, cứ đến ngày mất của Mẫu, nhân dân các nơi trong huyện lại vác mai, vác cuốc đi hành lễ. Rồi đổi thành vác gậy cuốn hoa và cuối cùng thành hội kéo chữ như hiện nay.



Hội kéo chữ gồm ông cờ hiệu (thủ lệnh) có nhiệm vụ chọn chữ để kéo đồng thời lựa chọn trang phục, người tham gia kéo chữ, tổ chức các buổi tập luyện và điều hành cuộc đấu chính thức. Ông cờ hiệu phải người hay chữ, hiểu rộng và được nhân dân trọng vọng. Khi điều khiển, ông có thể dùng cờ (hiệu cờ) hoặc dùng trống (thủ lệnh). Phu cờ nhất thiết phải là nam giới do dân làng kén chọn. Họ mặc đồng phục, đội khăn xếp, áo the thâm, quần trắng. Mỗi phu cờ cầm một lá cờ ngũ hành đuôi nheo, cán dài 4m, có quấn giấy màu. Tùy theo số chữ được kéo, số nét trong một chữ cũng như kích thước chữ to nhỏ, nét đậm nhạt, màu sắc khác nhau mà số lượng phu cờ được chọn nhiều hay ít.

Sân kéo chữ thường được chọn ở nơi thoáng mát, thuận lợi là phải gần phủ thờ Mẫu. Vào hội, sau khi hồi chiêng trống nổi lên, các phu cờ với lá cờ trên tay dàn hàng đôi quay mặt về phía chủ tế làm lễ bái yết Thánh Mẫu và Chư Vị. Sau hồi chiêng thứ hai, ông cờ hiệu dõng dạc hô: Cung cúc Đại vương Thượng đẳng thần. Tất cả nghiêm trang quỳ một gối, cúi đầu, ngả cờ và khi giới để lễ Mẫu. Một hồi chiêng trống nữa lại vang lên, các phu cờ nhất loạt đứng dậy đợi lệnh. Theo thứ tự sắp đặt của ông cờ lệnh, các phu cờ đi về vị trí tập kết. Trông theo hiệu cờ ông phất, tùy theo nét chữ, các phu cờ sẽ chạy sang ngang, dọc, tiến, lùi vào đúng vị trí đã được phân công. Một hồi chiêng trống lại nổi lên, các phu cờ ngồi xuống theo tư thế quỳ một chân, tay giữ sao cho cán cờ ngả dọc sát thân. Lúc này, đỉnh cờ, màu sắc của cờ làm cho các nét chữ nổi lên. Ban đầu, họ xếp từng chữ riêng lẻ và rút lui sau khi đã hô vang khẩu hiệu: Cung cúc Đại Vương Thượng đẳng thần Ơ ơ ơ... Cứ như thế, toán này vào, toán kia ra cho đến hết hàng chữ được  kéo  ( thường Quốc thái dân an, Thiên hạ thái bình hoặc Phong đăng hòa cốc...). Đến giai đoạn kéo chữ, các chữ được xếp trước ở sân, theo hiệu cờ đi vào uyển chuyển, nhịp nhàng trong sụ thán phục của mọi người. Buổi lễ kéo chữ kết thúc trong tiếng hô vang dậy của người xem.

Ngoài ra, trong những ngày diễn ra lễ hội, song song với các nghi thức của phần lễ, khắp các đền, phủ đều diễn ra các hoạt động của phần hội như: biểu diễn nghệ thuật, múa rồng, thả rồng bay, thi múa rồng, múa sư tử, rước đuốc cờ người, biểu diễn võ thuật...

Trung tâm TTXT Du lịch tổng hợp