Thảo luận của đồng chí Hoàng Thị Tố Nga - Đại biểu Quốc hội Nam Định tại hội trường chiều ngày 31/5/2012
10:17' 1/6/2012
(Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Nam định)

Thảo luận của đại biểu Hoàng Thị Tố Nga - Nam Định về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật tài nguyên nước (sửa đổi) do Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân chủ trì

 



Kính thưa Quốc hội.

Chúng ta đều đã biết tài nguyên nước có tầm quan trọng như thế nào đối với sự sống. Tuy nhiên do Luật tài nguyên nước hiện hành chưa thể hiện rõ được việc quản lý sử dụng tổng hợp tài nguyên nước, chưa có đủ các qui định nghiêm khắc nhằm xử lý các hành vi xâm hại tài nguyên nước bắt buộc khắc phục hậu quả do vi phạm tài nguyên nước gây ra. Nên thời gian qua có rất nhiều vi phạm quan trọng tài nguyên nước mà không được xử lý kịp thời. Chính vì thế tôi hoàn toàn nhất trí với phạm vi điều chỉnh chủ yếu của dự án luật là phòng, chống khắc phục hậu quả tác hại của nước gây ra có liên quan trực tiếp tới vận hành hồ chứa các công trình nhập mặn việc thăm dò khai thác dưới đất. Sau đây tôi xin góp ý một số vấn đề cụ thể như sau.

Vấn đề thứ nhất, về tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, tôi tán thành với qui định thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước như trong dự án luật và giải trình, tiếp thu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Còn đối với sản xuất nông nghiệp là một ngành gặp rất nhiều rủi ro và lợi nhuận thấp, tôi đề nghị có những chính sách miễn phí và qui định bằng văn bản dưới luật.

Như hiện nay những qui định cụ thể được những đối tượng miễn phí thì đã được qui định ở trong Nghị định 115/2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003 của Chính phủ về qui định chi tiết một số điều của Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi. Tuy nhiên đối với vấn đề này, tôi xin góp ý một số vấn đề cụ thể như sau.

Thứ nhất, tôi thấy về tài chính tại Điều 64 ghi: cấp quyền khai thác. Nhưng tại Chương IV về khai thác và sử dụng tài nguyên nước lại ghi: cấp phép khai thác. Vậy hai khái niệm này có giống nhau hay không? và nếu như nó giống nhau, tôi đề nghị Ban soạn thảo sửa lại cho nó thống nhất cách gọi.

Thứ hai, tại Điểm b Khoản 1 Điều 64 quy định khai thác nước để phục vụ hoạt động kinh doanh dịnh vụ sản xuất phi nông nghiệp thì phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước. Ghi chung chung như vậy tôi hiểu là hoạt động kinh doanh dịch vụ sản xuất phi nông nghiệp dù ở quy mô nhỏ hay lớn thì đều phải nộp tiền cấp quyền khai thác sử dụng. Nhưng tại Điểm b, Khoản 2, Điều 43 lại quy định các trường hợp không phải xin phép là "khai thác sử dụng tài nguyên nước với quy mô nhỏ cho sản xuất kinh doanh dịch vụ". Theo tôi sản xuất ở đây có nghĩa là sẽ bao gồm cả sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp, như vậy hai điều này đã mâu thuẫn nhau. Nếu ghi như Điểm b, Khoản 1, Điều 64 thì cũng quy định bao hàm cả nội dung của Điểm d Khoản 1 Điều 64 là khai thác mặt nước sông, hồ, mặt biển nhằm mục đích kinh doanh dịch vụ tập trung quy mô lớn. Tại Điều 64 này tôi thấy chưa đề cập tới vấn đề nuôi trồng thủy sản tập trung quy mô lớn sử dụng nước mặt thì có phải nộp tiền cấp phép không. Cho nên theo tôi Điều 64 về tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước ở Khoản 1 nên bỏ Điểm c và Điểm d, Điểm b sẽ được ghi lại như sau "khai thác tài nguyên nước để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ với quy mô lớn" nếu ghi như thế này theo giải thích từ ngữ ở Điều 2 Khoản 1 thì tài nguyên nước đã bao gồm cả khai thác nước dưới đất và nước mặt. Còn đối với sản xuất ở đây sản xuất bao gồm cả sản xuất phi nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và cả trồng cây công nghiệp.

Vấn đề thứ hai, tại Khoản 3 Điều 7 về việc bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh và môi trường là yêu cầu bắt buộc khi triển khai các dự án phát triển kinh tế xã hội nói chung và các dự án bảo vệ khai thác sử dụng tài nguyên nói riêng. Tuy nhiên, cụm từ "bảo vệ" trong đoạn bảo vệ di tích lịch sử văn hóa danh lam thắng cảnh và môi trường tại Khoản 7, Điều 3, trong thực tế tôi nghĩ rất khó khả thi, thậm chí nếu áp dụng một cách máy móc sẽ ảnh hưởng đến việc triển khai các dự án sử dụng tài nguyên nước phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương vì đã là bảo vệ gần như bất khả xâm phạm. Do vậy, tôi đề nghị nên có quy định mang tính mềm dẻo hơn, vừa bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, vừa đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Thứ ba, tại Điều 6 về lấy ý kiến của cộng đồng các bên liên quan trong khai thác và sử dụng tài nguyên nước, tôi đề nghị nên bổ sung về vai trò giám sát của cộng đồng và các bên liên quan trong quá trình thực hiện dự án. Vì tại Điều 71 đã đề cập đến vấn đề giám sát nhưng đó là trách nhiệm của cơ quan quản lý, nếu phát huy được vai trò giám sát của chính người dân sở tại sẽ làm tăng thêm trách nhiệm bảo vệ nguồn nước và lòng tin của dân vào các dự án. Cũng tại Điều 6, tôi đề nghị bổ sung thêm lấy ý kiến của các nhà khoa học, tổ chức khoa học công nghệ, tổ chức xã hội nghề nghiệp liên quan, vì các tổ chức này trực tiếp làm việc tại cộng đồng sẽ am hiểu cộng đồng hơn, họ có chuyên môn khoa học về quản lý tài nguyên nước và các lĩnh vực liên quan. Vì vậy, các đề nghị từ những đối tượng này sẽ có giá trị trong việc đánh giá tác động của các dự án đối với sản xuất đời sống của cộng đồng dân cư.

Tại Điều 6, Khoản 1, Điểm b việc công khai thông tin những nội dung liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước và những ảnh hưởng có thể gây ra cho cộng đồng biết trước khi thực hiện dự án là điều rất cần thiết, nhưng vấn đề là dự án cần phải bổ sung phương pháp thông tin như thế nào đảm bảo tất cả người dân đều biết được, tránh trường hợp hiện nay có những dự án thông tin hình thức như dán mấy tờ thông báo ở trụ sở Ủy ban xã, như vậy chỉ có cán bộ địa phương biết còn người dân không thể biết được. Cũng cần phải ghi rõ thời gian công khai thông tin bao nhiêu ngày để người dân có đủ thời gian suy nghĩ góp ý cho dự án.

Vấn đề thứ tư, tại Điều 43 cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước ở Khoản 2 Điểm d cần bổ sung cụm từ "hoạt động quan trắc", vì đây là hoạt động thường xuyên để quản lý chất lượng

Các tin trước
Các tin tiếp