LỜI GIỚI
THIỆU
Nhiệm kỳ 2004 - 2011, dưới
sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, sự giám sát chặt chẽ của HĐND tỉnh; UBND tỉnh đã tập
trung chỉ đạo, điều hành năng động, quyết liệt cùng sự phối hợp thường xuyên, tích
cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, sự nỗ lực, phấn đấu của các cấp, các
ngành, các doanh nghiệp và quân, dân trong tỉnh; chúng ta đã vượt qua nhiều khó
khăn, thách thức, giành thắng lợi toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã
hội, quốc phòng và an ninh, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng
bộ tỉnh lần thứ XVII. Để ghi lại quá trình phấn đấu liên tục của các lớp Lãnh đạo
và Ủy viên UBND tỉnh nhiệm kỳ 2004-2011, chúng tôi tổ chức xây dựng “Kỷ yếu
Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2004-2011”.
Nội dung của kỷ yếu gồm
ba phần: Phần
I - Tổng kết hoạt động của UBND tỉnh nhiệm kỳ 2004-2011. Bằng phương pháp tư
duy khoa học và biện chứng, bản tổng kết đã trình bày những quan điểm lớn, những
quyết sách mang tính chiến lược của tỉnh, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ
thể của địa phương và cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của
nước ta đang trong tiến trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới nhằm tạo
bước phát triển đột phá về kinh tế, nhưng vẫn thường xuyên quan tâm đúng mức việc
giải quyết những vấn đề bức xúc trong nhân dân để giữ vững ổn định và đồng thuận
xã hội. Do đó, kết thúc nhiệm kỳ 2004-2011, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh
đã tạo lập được mặt bằng cao mới cho sự phát triển trong tương lai. Phần II -
Chân dung của các đồng chí Lãnh đạo, Ủy viên UBND tỉnh nhiệm kỳ 2004-2011. Phần
III - Một số hình ảnh hoạt động của UBND tỉnh nhiệm kỳ 2004-2011.
Kỷ yếu được xây dựng trên
hai phiên bản: Phiên
bản in giấy và Phiên bản điện tử đăng trên cổng thông tin điện tử của tỉnh tại địa
chỉ Website: http://www. namdinh.gov.vn.
Ban biên tập xây dựng kỷ
yếu đã có nhiếu cố gắng trong quá trình biên tập, xây dựng kỷ yếu, nhưng sẽ không
tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết; mong các đồng chí thông cảm!
Nam Định, tháng 6 năm 2011
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
Nguyễn Văn Tuấn
Tổng kết UBND tỉnh nhiệm kỳ 2004-2011.
NHIỆM KỲ 2004
- 2011, QUÁN TRIỆT VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG,
PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC, SỰ CHỈ ĐẠO KỊP THỜI, HIỆU QUẢ CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG
CHÍNH PHỦ VÀ TỈNH UỶ, SỰ GIÁM SÁT CHẶT CHẼ CỦA HĐND TỈNH; UBND TỈNH ĐÃ TÍCH CỰC
CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH, CƠ BẢN HOÀN THÀNH TỐT NHIỆM VỤ, GÓP PHẦN VÀO THẮNG LỢI
CHUNG CỦA TỈNH TRÊN CÁC LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ, KINH TẾ, VĂN HOÁ, XÃ HỘI, QUỐC
PHÒNG VÀ AN NINH...
(Trích Báo cáo của UBND tỉnh tại kỳ họp tổng kết HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2004 - 2011)
PHẦN
1: HOẠT ĐỘNG CỦA UBND TỈNH
I.
Tổ chức bộ máy, quy chế làm việc và công tác chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh
nhiệm kỳ 2004 - 2011:
1. Cơ cấu, số lượng và chất lượng thành viên UBND tỉnh:
Cơ cấu,
số lượng thành viên UBND tỉnh do HĐND tỉnh bầu theo đúng quy định của Luật Tổ
chức HĐND và UBND và các Nghị định của Chính phủ. Đến nay, UBND tỉnh có 8 thành
viên gồm: Chủ tịch UBND tỉnh, 02 Phó Chủ tịch UBND tỉnh và 05 Uỷ viên UBND tỉnh
phụ trách các lĩnh vực: Công an, Quân sự, Nội vụ, Tài chính và Văn phòng UBND
tỉnh.
Các
thành viên UBND tỉnh đều có trình độ đại học và trên đại học, đã tốt nghiệp cử
nhân chính trị hoặc cao cấp lý luận chính trị; có phẩm chất đạo đức tốt; có
năng lực công tác, đã từng là lãnh đạo chủ chốt ở các cấp, các ngành; có kinh
nghiệm thực tiễn trong chỉ đạo, điều hành quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực
kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng và an ninh ở địa phương.
|

|

|
|
Lễ giao nhận nhiệm vụ
Chủ tịch UBND tỉnh giữa
đồng chí Trần Minh Oanh và đồng chí Nguyễn Văn Tuấn.
|
Phiên họp thường kỳ
của UBND tỉnh.
|
2. Quy chế làm việc của UBND tỉnh:
Căn
cứ Nghị định số 23/2003/NĐ-CP ngày 12/3/2003 của Chính phủ ban hành Quy chế làm
việc của Chính phủ; UBND tỉnh đã ban hành và thực hiện Quy chế làm việc của
UBND tỉnh và sửa đổi bổ sung Quy chế làm việc của UBND tỉnh theo đúng Quyết
định số 53/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Việc phân công nhiệm vụ của Chủ
tịch UBND tỉnh, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh và thành viên UBND tỉnh được quy
định cụ thể, xác định rõ thẩm quyền và nêu cao trách nhiệm của từng thành viên
trên cơ sở tăng cường tính chủ động, sáng tạo, đảm bảo nguyên tắc tập trung dân
chủ, phát huy trí tuệ tập thể, tạo sự thống nhất, đồng bộ, hiệu quả trong chỉ
đạo, điều hành của UBND tỉnh.
|

|

|

|
|
Đồng chí Trần Minh Oanh-Chủ tịch UBND tỉnh kiểm tra lúa vụ Xuân năm
2008
|
Lãnh đạo UBND tỉnh kiểm tra tiến độ xây dựng các công trình phòng
chống lụt bão tại huyện Giao Thủy
|
Hình ảnh làm đường giao thông nội đồng ở xã Mỹ Tân, huyện Mỹ Lộc
|
3. Công tác chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh:
a) Công
tác chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh đã chủ động, linh
hoạt, sáng tạo, hiệu quả, đúng quy chế làm việc của UBND tỉnh, đúng quy định
của Luật tổ chức HĐND và UBND. Mọi hoạt động của UBND tỉnh được đặt dưới sự
lãnh đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tỉnh ủy và các quy định của pháp
luật. Mọi công việc của UBND tỉnh đều được giải quyết đúng phạm vi, thẩm quyền
và trách nhiệm đã được phân công theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật.
b) UBND
tỉnh với chức năng của mình đã bám sát sự chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ, các Nghị quyết của Tỉnh uỷ, HĐND tỉnh để cụ thể hoá thành các chương
trình, kế hoạch, các giải pháp, biện pháp chỉ đạo điều hành quản lý các hoạt
động kinh tế, xã hội, quốc phòng và an ninh trên địa bàn.
- Hàng
năm, UBND tỉnh đều tổ chức hội nghị với các Sở, ban, ngành, UBND các huyện,
thành phố triển khai, thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội được
HĐND tỉnh quyết định.
- UBND
tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành các Quyết định, Chỉ thị và các văn bản chỉ
đạo điều hành phục vụ kịp thời công tác quản lý nhà nước trên địa bàn, đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của địa phương; phát huy quyền làm chủ của
nhân dân; tạo thuận lợi cho hoạt động của cơ quan, tổ chức, đoàn thể, người dân
và doanh nghiệp. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, UBND tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh đã
ban hành 30.366 văn bản, trong đó: Lĩnh vực kinh tế 21.836 văn bản; lĩnh vực
văn hoá - xã hội 3.146 văn bản; lĩnh vực quốc phòng, an ninh 356 văn bản; xây
dựng chính quyền 1.390 văn bản; thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo 4.445
văn bản; phòng chống tham nhũng 17 văn bản. Văn bản của UBND tỉnh đảm bảo đúng
trình tự, thủ tục và thẩm quyền, phù hợp yêu cầu cải cách thủ tục hành chính và
yêu cầu quản lý, điều hành của UBND tỉnh đối với các cấp, các ngành trong tỉnh.
c) UBND
tỉnh thường xuyên quan tâm trao đổi, phối hợp thông tin, quản lý, điều hành với
các cơ quan Trung ương và địa phương. UBND tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh chú trọng
xây dựng Chương trình công tác năm, quý, tháng để tập trung chỉ đạo những nhiệm
vụ trọng tâm, cụ thể phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh.
d) UBND
tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh tích cực đổi mới phương thức quản lý theo hướng thiết
thực, hiệu quả, từng bước ứng dụng công nghệ tin học trong chỉ đạo, điều hành:
Hình thức hội nghị trực tuyến đã góp phần tiết kiệm thời gian, giảm kinh phí đi
lại, hội họp. Cập nhật thường xuyên, kịp thời trên cổng thông tin điện tử của
tỉnh các loại văn bản: quy phạm pháp luật của tỉnh; các Thông báo ý kiến kết
luận, ý kiến chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh; Lịch công
tác của Lãnh đạo UBND tỉnh; Bộ thủ tục hành chính của tỉnh... góp phần nâng cao
năng lực, chất lượng chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh.
e) Mạnh
dạn phân cấp cho các Sở, ngành, các huyện, thành phố và cho các đồng chí Phó
Chủ tịch UBND tỉnh phụ trách các lĩnh vực, phù hợp với tình hình cụ thể của
tỉnh theo hướng phân cấp có hướng dẫn, giám sát, kiểm tra.
II.
Kết quả thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyền của UBND tỉnh trên một số lĩnh vực
chủ yếu:
1. Về phát triển kinh tế:
UBND
tỉnh chú trọng công tác nắm bắt, phân tích tình hình, quyết đoán kịp thời, tập
trung, thống nhất, chỉ đạo thực hiện quyết liệt, linh hoạt, đồng bộ các giải
pháp phòng chống lạm phát, thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân mỗi năm đạt 10,4%/năm. Cơ cấu kinh tế
chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ (đến cuối năm
2010 đạt 70,5%) và giảm dần tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp (cuối năm 2010 đạt
29,5%). Năm 2010, hoàn thành tất cả các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội,
đảm bảo an ninh, quốc phòng; một số chỉ tiêu vượt cao.
|

|

|

|
|
Đường giao thông nông thôn đã được bê-tông hóa tại xã Hải Đường (xã
điểm xây dựng nông thôn mới)
|
Ngành điện triển khai cải tạo, nâng cấp lưới điện hạ thế nông thôn
giai đoạn I
|
KCN Hòa Xá tỉnh Nam
Định
|
a)
Về nông nghiệp, nông dân và nông thôn:
UBND
tỉnh chủ động, tích cực giải quyết những khó khăn, thách thức về thiên tai,
dịch bệnh, khô hạn, thiếu nước, thiếu điện… để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp
phát triển. Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt
3,9%/năm; giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 ha canh tác năm 2010 đạt 71 triệu
đồng/ha, tăng cao so với chỉ tiêu đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XVII đề ra là 42
triệu đồng/ha.
Trong
nhiệm kỳ, UBND tập trung thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 về nông nghiệp, nông
dân và nông thôn, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chỉ đạo,
điều hành. UBND tỉnh đã ban hành Bộ tiêu chí về nông thôn mới và triển khai xây
dựng nông thôn mới giai đoạn 2011- 2015 đến 96 xã trên địa bàn toàn tỉnh; bước
đầu tạo được sự chuyển biến tích cực trong cách nghĩ, cách làm của nhân dân và
chính quyền xã. Tổ chức triển khai thực hiện tốt các chính sách: Miễn thuế nông
nghiệp; miễn thủy lợi phí; kiên cố hóa hệ thống kênh cấp 1, cấp 2; tích tụ
ruộng đất; đào tạo nghề cho lao động và phát triển ngành nghề nông thôn; thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn; đẩy mạnh các
chính sách khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư; nâng cấp hệ thống đê sông, đê biển
phòng chống lụt bão...
b)
Công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ duy trì tốc độ phát triển ở mức khá
cao:
- Về
công nghiệp: Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt 20,7%/ năm.
Khu vực công nghiệp đã thu hút được trên 10.000 lao động khu vực nông nghiệp
chuyển sang. Tính đến tháng 2/2011, trên địa bàn tỉnh có 3.668 doanh nghiệp; 28
dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký là 5.165,2 triệu USD. Đã xúc tiến
đầu tư thành công một số dự án lớn trên địa bàn, góp phần thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới như: Nhà máy Nhiệt điện Hải
Hậu; thỏa thuận hợp tác với Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam về một số dự án
lớn trên địa bàn tỉnh.... Đã thực hiện thu hồi 21 giấy phép đầu tư của các
doanh nghiệp không thực hiện đúng tiến độ trong Khu công nghiệp Hòa Xá.
- Về
thương mại, du lịch và dịch vụ: Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ tăng
21,9%/năm. Các ngành dịch vụ hoạt động ổn định, giá trị tăng bình quân
9,1%/năm; sản phẩm dịch vụ khá đa dạng với chất lượng ngày càng tốt hơn. Kết
cấu hạ tầng thương mại, du lịch từng bước được cải tạo, nâng cấp. Trung tâm
thương mại siêu thị BigC Thiên Trường đi vào hoạt động, trở thành địa chỉ tin
cậy tiêu thụ các loại sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp của tỉnh; bước đầu
làm thay đổi phương thức hoạt động thương mại trên thị trường.
c)
Về đầu tư phát triển:
Trong
nhiệm kỳ, đã hoàn thành, đưa vào sử dụng nhiều công trình trong các lĩnh vực
giao thông, thủy lợi, điện lực, trường học, bệnh viện, khu, cụm công nghiệp,
chợ, trụ sở xã, giao thông nông thôn... Hoàn thành kiên cố hóa 35 km đê biển;
cứng hóa 38,9 km đê biển và 88,8 km đê sông; kiên cố hóa 154 km kênh cấp 1, 257
km kênh cấp 2 và 528 km kênh cấp 3; xây dựng mới 42 cống dưới đê. Hoàn thành
đưa vào sử dụng 4.166 phòng học đạt chuẩn quốc gia. Cơ bản hoàn thành nâng cấp
các bệnh viện tuyến huyện. Ngành điện đã đầu tư trên địa bàn 1.824 tỷ đồng,
trong đó đầu tư tại khu vực nông thôn là 1.332 tỷ đồng. UBND tỉnh chỉ đạo đẩy
nhanh tiến độ hoàn thành ngay trong năm 2011 một số dự án chiến lược, có tính
quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh như: Quốc lộ 21 Nam Định
- Thịnh Long; Tỉnh lộ 490C từ Nam Định đến phà Thịnh Long; Tuyến đường bộ mới
(BOT) Nam Định - Phủ Lý; đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình đoạn qua địa phận
huyện Ý Yên. Tập trung đẩy nhanh tiến độ một số dự án trọng điểm khác như: Xây
dựng hạ tầng Khu công nghiệp Bảo Minh, dự án Văn hóa Trần, Bệnh viện 700
giường, các dự án xây dựng thành phố Nam Định trở thành đô thị loại 1 và trung
tâm vùng nam đồng bằng sông Hồng, các dự án đê kè phòng chống bão lụt, khởi
công một số công trình lớn: Đường nối Quốc lộ 10 với Quốc lộ 21 có cầu Tân
Phong; đường 56 (đoạn từ cầu Hà Lạn đến Thị trấn Liễu Đề); Nhà thi đấu đa năng
phục vụ Đại hội Thể dục Thể thao toàn quốc lần thứ VII vào năm 2014.... Tổng
vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2006-2010 đạt khoảng 37.400 tỷ đồng.
Có 5
nguyên nhân cơ bản dẫn đến thành công trong lĩnh vực đầu tư phát triển: Một là,
được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương hỗ trợ, tạo
điều kiện. Hai là, các Sở, ngành và đơn vị tư vấn rút ngắn thời gian hoàn thành
thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản, đảm bảo chất lượng. Ba là, khuyến khích, tạo
điều kiện, cùng với nhà đầu tư đồng hành khơi thông các nguồn vốn. Bốn là, sự
quyết liệt, kiên trì, linh hoạt trong công tác giải phóng mặt bằng của cả hệ
thống chính trị. Năm là, có sự đổi mới trong việc bố trí các nguồn vốn đầu tư,
tập trung vào những dự án lớn, trọng điểm và những dự án đã hoàn thành, quyết
toán, có tác dụng khuyến khích nhà thầu đẩy nhanh tiến độ triển khai, thực hiện
dự án.
d) Thu
ngân sách: Năm 2010, tổng thu ngân sách ngân sách trên địa bàn đạt 1.329 tỷ
đồng, tăng 32,9% so chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra. Kết quả trên đạt được
một phần là do chính sách phân cấp nguồn thu của tỉnh thực sự có hiệu quả, có
tác dụng khuyến khích chính quyền địa phương, cơ sở thường xuyên chăm lo, đẩy
mạnh công tác thu, nộp vào ngân sách nhà nước. Đồng thời, cũng phản ánh rõ kinh
tế của tỉnh ngày càng phát triển.
|

Lễ khởi công xây dựng tỉnh lộ 490C
Cầu Nam Định
|
5
nguyên nhân cơ bản dẫn đến thành công trong lĩnh vực đầu tư phát triển:
Một
là, được Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương hỗ trợ, tạo điều kiện.
Hai
là, các Sở, ngành và đơn vị
tư vấn rút ngắn thời gian hoàn thành thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản, đảm bảo
chất lượng.
Ba
là, khuyến khích, tạo điều
kiện, cùng với nhà đầu tư đồng hành khơi thông các nguồn vốn.
Bốn
là, sự quyết liệt, kiên trì,
linh hoạt trong công tác giải phóng mặt bằng của cả hệ thống chính trị.
Năm là, có sự đổi mới
trong việc bố trí các nguồn vốn đầu tư, tập trung vào những dự án lớn, trọng
điểm và những dự án đã hoàn thành, quyết toán, có tác dụng khuyến khích nhà
thầu đẩy nhanh tiến độ triển khai, thực hiện dự án.
|
2. Về văn hóa - xã hội:
a) Lĩnh
vực giáo dục - đào tạo tiếp tục phát triển toàn diện cả về quy mô và chất
lượng; là một trong những đơn vị nhiều năm liền dẫn đầu toàn quốc. Năm học 2008
- 2009 và 2009 - 2010, Nam Định dẫn đầu toàn quốc về tỷ lệ học sinh tốt nghiệp
trung học phổ thông, tỷ lệ học sinh giỏi đạt giải quốc gia và điểm thi bình
quân vào đại học, cao đẳng. Đến năm 2010, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia bậc
mầm non là 37%, tiểu học 100%, trung học cơ sở 31%, trung học phổ thông 21,4%.
Hệ thống đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề tiếp
tục được mở rộng hợp lý. Đến nay, đã có 4 trường đại học, 5 trường cao đẳng, 15
trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề; các huyện đều có trung tâm dạy nghề.
b) Hệ
thống các cơ sở y tế từng bước được củng cố, nâng cấp, hoàn thiện: Đã có 248 cơ
sở y tế công lập (trong đó có 19 bệnh viện tuyến tỉnh và huyện, 229 trạm y tế
xã, phường); 1.514 cơ sở y tế và dịch vụ y tế tư nhân. Chất lượng khám chữa
bệnh từng bước được nâng cao; công tác y tế dự phòng được tăng cường, chủ động
trong công tác phòng, chống dịch bệnh, không để lây lan ra diện rộng. Chương
trình mục tiêu quốc gia về y tế được thực hiện tích cực. Năm 2010, có 118/209
xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã; tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng
giảm xuống còn 15,9%; tỉ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt
85%.
c) Chính
sách an sinh xã hội được triển khai thực hiện có hiệu quả: Giai đoạn 2006-2010,
đã giải quyết việc làm cho khoảng 166,8 nghìn lượt người (trong đó có trên 11,4
nghìn người đi lao động ở nước ngoài), bình quân mỗi năm tạo được 33 nghìn việc
làm mới. Công tác đào tạo nghề, nhất là đào tạo nghề cho lao động nông thôn
được chú trọng. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2010 đạt 45%. Các chương
trình vay vốn giải quyết việc làm, vay đi xuất khẩu lao động, cho học sinh,
sinh viên vay đi học được đẩy mạnh. Công tác giảm nghèo có chuyển biến tích
cực; năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống chỉ còn 6% (theo chuẩn cũ). Các chế độ,
chính sách, nhất là đối với các gia đình thương binh, liệt sỹ, người có công,
người nghèo được thực hiện đầy đủ và kịp thời. Phong trào đền ơn đáp nghĩa được
duy trì và phát triển. Các hoạt động bảo hiểm được mở rộng; số người tham gia
bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế tăng nhanh qua các năm, nhất là người nghèo.
d) Các
lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, báo chí, phát thanh, truyền hình
có bước phát triển; thực hiện tốt nhiệm vụ định hướng tư tưởng; tuyên truyền
gương người tốt, việc tốt gắn với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh”; đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vui chơi, giải trí,
thưởng thức của nhân dân. Công tác quản lý các lễ hội văn hoá truyền thống
thường xuyên được cải tiến. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hoá” được mở rộng. Năm 2010, có 40% làng, khu dân cư, 75% hộ gia đình đạt tiêu
chuẩn văn hoá; 70% cơ quan, trường học đạt nếp sống văn hoá.
|

|

|

|
|
Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong đón nhận Cờ đơn vị dẫn đầu phong trào
thi đua (tháng 3/2010)
|
Đài tưởng niệm Liệt sỹ tỉnh Nam Định khánh thành ngày
27/7/2010
|
Lễ kỷ niệm 710 năm ngày mất Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần
Quốc Tuấn
|
3. Quốc phòng và an ninh:
- Duy
trì và bảo đảm nghiêm chế độ trực chiến sẵn sàng chiến đấu, phòng chống thiên
tai, xây dựng lực lượng thường trực, dự bị động viên; huấn luyện, bồi dưỡng
kiến thức quốc phòng, vận động quần chúng thực hiện chính sách hậu phương quân
đội. Công tác tuyển quân hàng năm đều đạt chỉ tiêu kế hoạch, tạo được thế trận
quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Thực hiện tốt các cuộc diễn
tập về quốc phòng và an ninh theo quy định
|
|
|

|
|
Đ/c Nguyễn Văn Tuấn nhận cờ đăng cai Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ
VII - 2014 tại tỉnh Nam
Định
|
- Tập
trung chỉ đạo giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội, nhất là an ninh nông
thôn và các địa phương có dự án lớn. Bảo vệ thành công Đại hội Đảng các cấp và
đón các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước về thăm và làm việc tại tỉnh; bảo vệ
tốt các lễ hội có tính nhạy cảm... Triển khai thực hiện có hiệu quả chương
trình quốc gia phòng chống tội phạm, phòng chống ma tuý và mại dâm. Đẩy mạnh
phong trào “Toàn dân tham gia phòng chống tội phạm’’, dựa vào quần chúng nhân
dân để triển khai các biện pháp phòng ngừa, phòng chống tội phạm và các hành vi
vi phạm pháp luật. Tích cực đảm bảo trật tự an toàn giao thông; số tai nạn giao
thông có chiều hướng giảm. Năm 2010, Nam Định là đơn vị đứng thứ 4 toàn
quốc về đảm bảo trật tự an toàn giao thông.
4. Công tác thanh tra và giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo:
- Công
tác thanh tra, kiểm tra được triển khai tích cực, tập trung vào các lĩnh vực:
Xây dựng cơ sở hạ tầng, quản lý đất đai, giải phóng mặt bằng, thu - chi ngân
sách địa phương...
- UBND
tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng và ban hành, chỉ đạo thực
hiện quyết liệt Chương trình hành động triển khai Luật thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí và phòng chống tham nhũng từ cấp tỉnh, cấp huyện đến cấp cơ sở;
góp phần xây dựng chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh.
- Duy
trì nề nếp tiếp công dân của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh. UBND tỉnh và
Chủ tịch UBND tỉnh đã phân công cán bộ, công chức tổ chức tiếp công dân và nhận
đơn thư khiếu nại, tố cáo. Đã chỉ đạo các cơ quan hành chính trực thuộc giải
quyết dứt điểm nhiều đơn thư khiếu nại, tố cáo (nhất là các khiếu nại tố cáo
kéo dài) đảm bảo đúng quy định về thời gian, trình tự, đúng chế độ chính sách.
Hàng năm đã xem xét, giải quyết trên 85% số vụ việc khiếu nại, tố cáo phát
sinh. Chú trọng thực hiện công tác hòa giải và xử lý đơn thư ngay từ cơ sở,
giảm dần mức độ căng thẳng, giảm dần số đoàn khiếu kiện đông người vượt cấp.
|

|

|
|
Lực lượng Công an diễn
tập thực binh phương án phòng chống bạo loạn, khủng bố, bắt cóc con tin năm
2009.
|
Lãnh đạo UBND tỉnh động viên thanh niên lên đường nhập ngũ
|
5. Về cải cách hành chính:
UBND
tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh tích cực triển khai thực hiện chương trình tổng thể
cải cách hành chính giai đoạn 2001 - 2010 theo 4 nội dung trọng tâm: Cải cách
thể chế, cải cách tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức và cải
cách tài chính công.
a)
Về cải cách thể chế:
Một
mặt, UBND tỉnh ban hành nhiều cơ chế, chính sách thu hút vốn đầu tư và phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh như: Cơ chế khuyến khích đầu tư vào khu công
nghiệp tập trung; các chính sách khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư; hỗ trợ
giống cây trồng, vật nuôi; phát triển ngành nghề nông thôn; đào tạo nghề cho
lao động nông thôn; xây dựng nông thôn mới... Mặt khác, UBND tỉnh thực hiện đẩy
mạnh việc đơn giản hóa thủ tục hành chính theo Đề án 30 của Chính phủ: Đã kê
khai, rà soát 2.110 thủ tục hành chính (trong đó cấp tỉnh 1.376 thủ tục hành
chính, các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh là 734 thủ tục hành
chính). Đã kiến nghị sửa đổi, thay thế, bãi bỏ, đơn giản hóa 866 thủ tục hành
chính trên địa bàn tỉnh đạt 63% vượt yêu cầu của Thủ tướng là 30%. UBND tỉnh,
Chủ tịch UBND tỉnh thường xuyên chỉ đạo việc rà soát, sửa đổi, bổ sung, thay thế
hoặc bãi bỏ các văn bản không có tính khả thi, trái thẩm quyền hoặc vi phạm về
thể thức văn bản. Từ 2004 - 2010 đã rà soát 10.072 văn bản (trong đó có 162 văn
bản quy phạm pháp luật), tiến hành bãi bỏ 01 văn bản và tự sửa đổi 04 văn bản.
|

|
“...Đã kiến nghị sửa đổi, thay thế, bãi bỏ, đơn giản
hóa 866 thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh đạt 63% vượt yêu cầu của Thủ
tướng là 30%...”
|
|
Khai trương hệ thống Hội
nghị truyền hình trực tuyến và công bố kết quả rà soát thủ tục hành chính
giai đoạn II
|
|
b)
Về cải cách tổ chức bộ máy:
Đầu
nhiệm kỳ, toàn tỉnh có 23 cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và 3 cơ quan quản
lý nhà nước. Giữa nhiệm kỳ, thực hiện Nghị định 13/2008/NĐ-CP của Chính phủ về
cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn; UBND tỉnh đã thực hiện chia tách, giải
thể, sáp nhập và thành lập mới các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh theo hướng
Sở quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Đến nay, tổ chức các cơ quan chuyên môn của
UBND tỉnh gồm 17 Sở, ban, ngành; trong đó có 6 sở quản lý đa ngành, đa lĩnh vực
là: Sở Nội vụ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương, Sở Văn
hoá Thể thao và Du lịch, Sở Y tế, Sở Lao động Thương binh và Xã hội.
|

|

|

|
|
Hội nghị xúc tiến đầu tư
vào tỉnh Nam Định và tỉnh
Thái Bình tổ chức tại thành phố Nam Định
|
Lễ ký thỏa thuận đầu tư
xây dựng nhà máy phân bón Nam
Định
|
Lễ ký kết biên bản ghi
nhớ về đầu tư nhà máy nhiệt điện Nam Định, công suất 2.400 Mw
|
c)
Về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức:
Hàng
năm, UBND tỉnh đều xây dựng và triển khai kế hoạch tuyển dụng cán bộ, đào tạo,
bồi dưỡng, bổ sung nguồn nhân lực theo đúng quy định để nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức, viên chức từ tỉnh đến cơ sở. Thực hiện Nghị quyết số
08-NQ/TW ngày 6/8/2007 của Ban Thường vụ tỉnh uỷ về xây dựng đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý từ năm 2007 đến năm 2015 và những năm tiếp theo, UBND tỉnh đã
ban hành các chính sách đãi ngộ đối với những người được cử đi đào tạo sau đại
học và hỗ trợ những người có trình độ cao về công tác tại tỉnh, ưu tiên tuyển
thẳng những người có trình độ đại học hệ chính quy về công tác tại xã, phường,
thị trấn. Chủ tịch UBND tỉnh ban hành văn bản quy định tiêu chí đào tạo thạc
sỹ; theo đó ai được đào tạo chính quy theo chuyên ngành nào thì được đào tạo
thạc sỹ theo chuyên ngành đó. Tăng cường công tác đào tạo trình độ Trung cấp chuyên
môn cho cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn. Đến nay, đã có trên 70% số cán
bộ, công chức cấp xã có trình độ Trung cấp chuyên môn trở lên.
d)
Về cải cách tài chính công:
Thực
hiện phân cấp mạnh quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách. Trình
HĐND tỉnh quyết định mức khoán chi ngân sách để làm cơ sở cho việc giao quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí theo Nghị định số
130/2005/NĐ-CP và Nghị định số 43/2006/ NĐ-CP của Chính phủ.
6. Về thực hiện công tác dân vận và quy chế dân chủ ở cơ sở:
UBND
tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành liên quan, hướng dẫn triển khai
và tổ chức thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan hành chính sự
nghiệp, các doanh nghiệp và Chỉ thị số 18/1999/CT - TTg của Thủ tướng Chính phủ
về công tác dân vận của chính quyền. Tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân địa
phương tham gia bàn bạc, quyết định những vấn đề quan trọng liên quan trực tiếp
đến quyền lợi của người dân ở cơ sở và tham gia giám sát hoạt động của các cơ
quan công quyền. Việc thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở đã phát huy tác dụng
thiết thực, góp phần ngăn chặn tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch,
cửa quyền của một bộ phận cán bộ, công chức; giữ vững đoàn kết nội bộ; hạn chế
điểm nóng phát sinh và xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh.
III.
Mối quan hệ phối hợp của UBND tỉnh với Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể chính trị - xã hội:
1. UBND
tỉnh cụ thể hoá các Nghị quyết, Chỉ thị của Tỉnh ủy thành các văn bản hành
chính để tổ chức triển khai thực hiện; định kỳ báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh uỷ
các lĩnh vực công tác và xin ý kiến về những vấn đề quan trọng của tỉnh theo
Quy chế hoạt động của Tỉnh ủy. Giữ mối quan hệ công tác thường xuyên với Tỉnh
ủy đã tạo điều kiện thuận lợi cho UBND tỉnh thực hiện các nhiệm vụ quản lý,
điều hành; phát huy được tiềm năng, thế mạnh của địa phương để thúc đẩy kinh tế
- xã hội phát triển, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng, an ninh và
trật tự an toàn xã hội.
2.
UBND tỉnh thường xuyên phối hợp với Thường trực HĐND tỉnh trong việc xây dựng
và triển khai thực hiện các Nghị quyết
của
HĐND tỉnh. Tạo điều kiện thuận lợi để các Ban của HĐND và đại biểu HĐND tỉnh
giám sát hoạt động của các cơ quan và chính quyền các cấp. Trong các kỳ họp của
HĐND tỉnh; Chủ tịch UBND tỉnh và Giám đốc các Sở, ngành được phân công đã báo
cáo, trả lời chất vấn những vấn đề mà Đại biểu và cử tri quan tâm để Đại biểu
và cử tri trong tỉnh hiểu đúng, hiểu rõ tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh và
hoạt động chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh; nhất là đối với
việc thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm, những vấn đề gây bức xúc trong nhân
dân.
3. Hàng
năm, UBND tỉnh xây dựng quy chế phối hợp hoạt động với Mặt trận Tổ quốc và các
tổ chức đoàn thể. Thường xuyên mời đại diện của Ủy ban Mặt trận tổ quốc và các
đoàn thể tham dự các phiên họp thường kỳ của UBND tỉnh, để tham gia ý kiến vào
các báo cáo, đề án, chương trình và các lĩnh vực kinh tế - xã hội của tỉnh. Bên
cạnh đó, UBND tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể của tỉnh tham gia xây dựng chính quyền; phối hợp vận động nhân dân tham gia
các phong trào thi đua lao động sản xuất, xây dựng nếp sống gia đình văn hoá,
xoá đói giảm nghèo; phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí và
phòng chống tệ nạn xã hội...
4. UBND
tỉnh tạo điều kiện để Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương hoạt động thuận lợi.
Thực hiện báo cáo các lĩnh vực theo yêu cầu của Đoàn đại biểu Quốc hội, đồng
thời chủ động đề xuất, kiến nghị với Quốc hội thông qua Đoàn đại biểu Quốc hội
của tỉnh. Tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội tiếp xúc với cử tri trước và sau
kỳ họp Quốc hội. Tích cực giải quyết những kiến nghị của cử tri do đoàn đại
biểu Quốc hội phản ánh, góp phần chấn chỉnh những hạn chế trong quá trình hoạt
động của các cơ quan quản lý Nhà nước.
|

|

|
|
Đồng
chí Phạm Hồng Hà, Ủy viên TW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh phát
biểu chỉ đạo tại phiên họp thường kỳ quý I/2011 của UBND tỉnh
|
Đ/c
Nguyễn Văn Tuấn, Chủ tịch UBND tỉnh tiếp và làm việc với Đức Giám mục địa
phận Bùi Chu - Hoàng Văn Tiệm
|
|

|
“...Chủ
tịch UBND tỉnh và Giám đốc các Sở, ngành được phân công đã báo cáo, trả lời
chất vấn những vấn đề mà Đại biểu và cử tri quan tâm để Đại biểu và cử tri
trong tỉnh hiểu đúng, hiểu rõ tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh và hoạt
động chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh; nhất là đối với
việc thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm, những vấn đề gây bức xúc trong nhân
dân...”
|
|
UBND
tỉnh thường xuyên phối hợp với HĐND tỉnh chuẩn bị tốt nội dung các kỳ họp
HĐND tỉnh (Ảnh kỳ họp tổng kết HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2004-2011)
|
|
PHẦN
2: NHẬN XÉT , ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
I.
Nhận xét, đánh giá chung:
1. Về ưu điểm
a) Dưới
sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, sự giám sát chặt chẽ của HĐND tỉnh, sự phối hợp thường
xuyên tích cực của MTTQ và các đoàn thể, cùng sự nỗ lực, phấn đấu của nhân dân
và cộng đồng doanh nghiệp; UBND tỉnh đã linh hoạt, quyết đoán, tập trung, thống
nhất chỉ đạo, điều hành quyết liệt, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, cơ bản
hoàn thành tốt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội: Tốc độ tăng trưởng
kinh tế được duy trì ở mức độ khá cao; các lĩnh vực văn hóa, xã hội tiếp tục có
bước phát triển mới; an ninh, quốc phòng được giữ vững; đời sống vật chất tinh
thần của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao.
|
KẾT
QUẢ THỰC HIỆN MỘT SỐ CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN KT-XH NĂM 2010 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
|
|

|
b) Trong
nhiệm kỳ, nhất là trong giai đoạn gần đây, UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ
đạo đối phó thành công trước những ảnh hưởng tiêu cực của suy thoái kinh tế thế
giới, lạm phát tăng cao, thiên tai khắc nghiệt, dịch bệnh bùng phát. Nền kinh
tế của tỉnh đã tạo lập được mặt bằng mới cho phát triển kinh tế - xã hội trong
những năm tiếp theo. Năm 2010, chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh đã tăng được
10 bậc trên bảng xếp hạng (đạt loại khá); chỉ số năng lực hội nhập kinh tế quốc
tế xếp thứ 26/63 tỉnh, thành phố (đạt loại khá); được tặng cờ thi đua hạng 2 cụm
thi đua đồng bằng Bắc Bộ.
|

Đ/c Chủ tịch UBND tỉnh kiểm tra tiến độ thi công các công trình trọng điểm
trong Chương trình xây dựng thành phố Nam Định trở thành đô thị loại I
|

Tạp chí Vietnam Business Forum số ngày 3-9/7/2010
chuyên đề về Nam
Định
|
"...UBND
tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh đã dành nhiều thời gian, tập trung giải quyết những
vấn đề lớn, vấn đề khó có tính phức tạp, những vấn đề trọng điểm có tính
quyết định đến sự phát triển của tỉnh trước mắt cũng như lâu dài..."
"...Bên cạnh đó, UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh cũng tập trung xử
lý có hiệu quả những vấn đề đột xuất, phát sinh như: Phòng chống thiên tai,
dịch bệnh, khô hạn; những khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình GPMB
thực hiện các dự án; thực hiện các chính sách an sinh xã hội..."
|
|
|
|
|
c) Trong
quá trình chỉ đạo, điều hành; UBND tỉnh đã quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm
túc và vận dụng linh hoạt các chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ và các
Bộ, ngành trung ương, các Nghị quyết của Tỉnh ủy và HĐND tỉnh. Trên cơ sở đó,
UBND tỉnh đã nghiên cứu, ban hành và triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý,
điều hành, phù hợp với từng lĩnh vực kinh tế, xã hội. UBND tỉnh, Chủ tịch UBND
tỉnh đã dành nhiều thời gian, tập trung giải quyết những vấn đề lớn, vấn đề khó
có tính phức tạp, những vấn đề trọng điểm có tính quyết định đến sự phát triển của
tỉnh trước mắt cũng như lâu dài, cụ thể là: Công tác GPMB và thi công các dự
án, công trình trọng điểm; công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường
đầu tư; đào tạo nguồn nhân lực; xây dựng thành phố Nam Định trở thành đô thị
loại 1 và từng bước trở thành thành phố trung tâm vùng nam đồng bằng sông Hồng;
xây dựng nông thôn mới... Bên cạnh đó, UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh cũng tập
trung xử lý có hiệu quả những vấn đề đột xuất, phát sinh như: Phòng chống thiên
tai, dịch bệnh, khô hạn; những khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình GPMB
thực hiện các dự án; thực hiện các chính sách an sinh xã hội....
d) UBND
tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo, điều hành mọi hoạt động theo quy chế làm việc
của UBND tỉnh; đề cao nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao trách nhiệm cá
nhân của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh và từng thành viên UBND tỉnh; tạo
được sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ. Mỗi thành viên có ý thức rèn luyện,
học tập, không ngừng nâng cao trình độ, hành động quyết liệt đáp ứng yêu cầu
của thời kỳ mới.
e) Tổ
chức bộ máy UBND tỉnh được sắp xếp và từng bước hoàn thiện; làm rõ hơn chức
năng và thẩm quyền của các cơ quan. Việc sắp xếp bố trí cán bộ đảm bảo được
chất lượng hoạt động của một số Sở quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Quy trình
quản lý từng bước được cải tiến; chú trọng phối hợp giữa quản lý ngành với quản
lý địa bàn thông qua việc thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, chấp hành đúng
chế độ thông tin báo cáo; tăng cường hướng dẫn, tổ chức thực hiện đối với các
cấp, các ngành giúp UBND tỉnh chỉ đạo, điều hành thuận lợi.
f) Công
tác cải cách hành chính có sự tiến bộ rõ rệt nhất là trong lĩnh vực đơn giản
hóa thủ tục hành chính và cải cách tài chính công. Ý thức phục vụ nhân dân của
đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình thực thi công vụ từng bước nâng lên.
|

|

|

|
|
Đại
hội thi đua yêu nước tỉnh Nam
Định lần thứ III (2006 - 2010)
|
Lãnh
đạo UBND tỉnh làm việc với Bộ KHĐT về Dự án Khu kinh tế Ninh Cơ (Hiện nay,
Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý bổ sung Khu Kinh tế Ninh Cơ vào Quy hoạch tổng
thể phát triển các Khu kinh tế ven biển Việt Nam đến năm 2020)
|
Đồng
chí Nguyễn Văn Tuấn, Chủ tịch UBND tỉnh tiếp và làm việc với Thủ tướng Nguyễn
Tấn Dũng trong chuyến thăm và làm việc tại tỉnh Nam Định
|
2. Hạn chế và tồn tại:
Bên
cạnh những thành tích đạt được trong nhiệm kỳ, UBND tỉnh vẫn còn bộc lộ những
mặt hạn chế, tồn tại, yếu kém cần khắc phục là:
- Hiệu
quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn
chậm, có mặt phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh. Tuy
một số lĩnh vực đã có sự phát triển đột phá (như giao thông, thủy lợi, thương
mại, chỉnh trang đô thị) nhưng đang trong quá trình hoàn thiện nên mức độ tác
động, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội chưa nhiều. Nguồn lực của tỉnh về
con người, văn hoá, giáo dục... chưa được phát huy cao độ. Chất lượng nhân lực,
trình độ công nghệ và thiết bị phổ biến ở mức trung bình.
-
Thu ngân sách từ kinh tế địa phương tăng khá, nhưng chưa có nguồn thu lớn và ổn
định.
- Công
tác quản lý nhà nước trong một số lĩnh vực chưa đáp ứng được yêu cầu: Thực hiện
một số dự án lớn ở một số địa phương còn chậm. Lựa chọn nhà thầu thi công còn
bộc lộ bất cập. Tình trạng ô nhiễm môi trường ở một số địa phương chưa được xử
lý dứt điểm. Công tác quản lý thị trường, chất lượng vật tư nông nghiệp, thuốc
chữa bệnh và một số mặt hàng thiết yếu có nơi còn buông lỏng... Thủ tục hành
chính, quy trình giải quyết công việc liên quan đến đất đai, giải phóng mặt
bằng, đầu tư xây dựng còn phức tạp. Mối quan hệ giữa các cơ quan, tổ chức trong
bộ máy hành chính trên một số lĩnh vực còn thiếu chặt chẽ...
- Một
bộ phận cán bộ, công chức còn có biểu hiện nhũng nhiễu, phiền hà; chất lượng
cải cách thủ tục hành chính và hoạt động theo cơ chế một cửa ở một số đơn vị
chưa cao, làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và chỉ số cạnh tranh của tỉnh.
- Tình
trạng tội phạm, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông vẫn là vấn đề bức xúc. Tình
trạng khiếu kiện ở một số nơi diễn biến phức tạp.
Những
tồn tại yếu kém trên, trước hết thuộc về trách nhiệm của UBND tỉnh và Chủ tịch
UBND tỉnh.
3. Nguyên nhân của các hạn chế, tồn tại:
- Quy
mô nền kinh tế còn nhỏ lại gặp phải những tác động tiêu cực của suy thoái kinh
tế, lạm phát, thiên tai, dịch bệnh, thiếu điện...đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất
và đời sống của nhân dân.
- Ý
thức chấp hành pháp luật của một bộ phận cán bộ và nhân dân chưa tốt; nhất là
trong lĩnh vực giải phóng mặt bằng làm chậm tiến độ các công trình dự án, gây
mất nhiều thời gian, công sức cho các cơ quan Nhà nước, ảnh hưởng đến môi
trường đầu tư của tỉnh.
- Việc
triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của Tỉnh ở một số
Sở, ngành, địa phương, đơn vị còn thiếu chủ động, chưa kịp thời, chưa quyết
liệt. Sự phối hợp giữa ngành và cấp trong một số công việc chưa chặt chẽ, còn
có tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.
-
Năng lực, trình độ kỹ năng quản lý nhà nước của một bộ phận cán bộ, công chức
chưa đáp ứng được yêu cầu.
- Một
số chế độ chính sách, văn bản pháp quy của một số Bộ, ngành ở Trung ương còn
chưa đồng bộ, thống nhất; việc phân cấp giữa Trung ương, địa phương và giữa các
cấp chính quyền địa phương triển khai chậm và chưa mạnh; vẫn còn những việc
trùng lắp, chồng chéo, thiếu cụ thể, chưa rõ trách nhiệm giữa tập thể và cá
nhân, giữa cấp trên và cấp dưới nên UBND tỉnh gặp khó khăn trong tổ chức và
triển khai thực hiện.
II.
Một số bài học kinh nghiệm:
Qua
tổ chức, quản lý và điều hành của UBND tỉnh trong nhiệm kỳ qua, UBND tỉnh rút
ra được một số bài học sau:
1. Chủ
động quán triệt, vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách của đảng và nhà
nước; bám sát sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và cơ quan nhà nước cấp trên,
Nghị quyết của Tỉnh uỷ và HĐND tỉnh để triển khai thực hiện nhiệm vụ. Trong tổ
chức, điều hành phải bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, đảm bảo sự đoàn kết,
thống nhất, bàn bạc kỹ trong tập thể UBND tỉnh; từ đó đề ra những biện pháp
quản lý, điều hành có hiệu quả. Xác định rõ trách nhiệm của tập thể và từng
thành viên UBND tỉnh trong việc thực hiện từng nội dung công việc, từng nhiệm
vụ cụ thể. Tăng cường sự phối hợp với Thường trực HĐND tỉnh, Ủy ban MTTQ tỉnh
và các đoàn thể nhân dân.
2. Đánh
giá đúng tình hình, tạo dựng và nắm bắt thời cơ, quyết đoán, lựa chọn những vấn
đề trọng tâm, tìm khâu ‘’đột phá’’ phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị
và sự đồng thuận của toàn dân để triển khai thực hiện. Phát triển kinh tế hài
hòa với phát triển văn hóa, bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh
và giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh. Nâng cao chất lượng xây dựng quy
hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án trên mọi lĩnh vực; tập trung thống nhất
chỉ đạo, điều hành theo các chương trình, mục tiêu với tinh thần kiên quyết,
triệt để; đồng thời tích cực sâu sát cơ sở để đôn đốc, kiểm tra nắm bắt thông
tin và giải quyết dứt điểm những phát sinh mới.
3. Làm
tốt công tác tiếp dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Trong
công tác thanh tra, kiểm tra phải có sự phối hợp giữa các ngành, các cấp có
liên quan để tránh trùng chéo. Những vi phạm phát hiện qua thanh tra, kiểm tra
phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh theo pháp luật.
4. Thực
hiện cải cách hành chính tiến hành đồng bộ cả 4 nội dung: cải cách thể chế hành
chính; tổ chức bộ máy; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chính
công, trọng tâm vẫn là khâu thủ tục hành chính. Thực hiện công khai, minh bạch
các thủ tục, quy trình giải quyết công việc với người dân, tổ chức, doanh
nghiệp; gắn công tác cải cách hành chính với chống tham nhũng, thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí. Tích cực đẩy mạnh thực hiện dân chủ, nhất là dân chủ ở cơ
sở, đồng thời giữ nghiêm kỷ cương, luật pháp; chăm lo cải thiện môi trường đầu
tư, nâng cao chỉ số cạnh tranh; tranh thủ sự giúp đỡ của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ, các Bộ ngành Trung ương, đồng thời cùng đồng hành với các nhà đầu tư, các
nhà doanh nghiệp nhằm phát huy cao nhất nguồn lực nội sinh, tập trung cao cho
xây dựng hạ tầng, trước hết là thủy lợi, hệ thống giao thông huyết mạch và điện
năng, đảm bảo môi trường... để phát triển kinh tế - xã hội nhanh và vững chắc,
đảm bảo an ninh quốc phòng ở địa phương.
5. Phân
cấp mạnh cho các Sở, ngành, các huyện, thành phố thực hiện một số nhiệm vụ,
lĩnh vực để giảm cầu cấp, nâng cao trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu cơ
quan quản lý nhà nước, phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương.
6. Quan
tâm đúng mức khâu đào tạo, quy hoạch, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ, công chức
trong bộ máy của UBND tỉnh. Phải đặt đội ngũ cán bộ, công chức vào trung tâm
của bộ máy hành chính; xem chất lượng, hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức
là nhân tố quyết định sự thành bại trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh
tế, xã hội ở địa phương. Chú trọng đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng
cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học, kỹ năng hành chính và ý
thức, trách nhiệm công vụ của đội ngũ công chức theo hướng gần dân, vì nhân dân
phục vụ.
7. Làm
tốt hơn nữa công tác tuyên truyền, định hướng dư luận. Hướng dẫn cán bộ, đảng
viên và nhân dân tự giác chấp hành pháp luật; đồng tâm, hiệp lực, chung sức,
chung lòng cùng các cấp, các ngành khắc phục mọi khó khăn để xây dựng tỉnh Nam
Định giàu mạnh, văn minh, từng bước lấy lại vị thế của tỉnh trong những năm gần
đây.